
Những kết quả quan trọng giai đoạn 2021-2025
Qua 5 năm (2021-2025), công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn thành phố được triển khai quyết liệt, đồng bộ và đạt nhiều kết quả quan trọng; các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra cho cả giai đoạn, hằng năm và của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đều đạt và vượt.
Theo Kết luận, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia và chuẩn riêng của thành phố giai đoạn 2022-2025 giảm từ 6,13% xuống còn 2,57%, giảm 3,56%. Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều theo chuẩn quốc gia giảm từ 5,07% xuống còn 2,48%, bình quân giảm 0,65%/năm, vượt chỉ tiêu Trung ương giao là 0,3-0,4%/năm.
Các chương trình, chính sách, phong trào, cuộc vận động hỗ trợ giảm nghèo được triển khai đồng bộ và mang lại hiệu quả thiết thực. Các vấn đề thiết yếu về nhà ở, đất ở, đất sản xuất, y tế, giáo dục, thông tin được quan tâm giải quyết; đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, tín dụng ưu đãi góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản; cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội tại các địa bàn nghèo, xã, thôn đặc biệt khó khăn được quan tâm đầu tư.
Bên cạnh kết quả đạt được, Ban Thường vụ Thành ủy cũng chỉ rõ những khó khăn, hạn chế cần tiếp tục khắc phục, trong đó có tình trạng tái nghèo, phát sinh nghèo mới, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; nguồn lực chưa kịp đáp ứng yêu cầu thực tiễn; công tác tuyên truyền, khơi dậy ý chí tự lực vươn lên chưa tạo được chuyển biến mạnh; một số cơ chế, chính sách còn vướng mắc, chậm sửa đổi; việc khảo sát, lập, giao kế hoạch vốn, phê duyệt danh mục, dự án và giải ngân ở một số địa phương còn chậm; việc rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo ở một số nơi còn sai sót; công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết chưa thường xuyên.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030
Kết luận số 38-KL/TU xác định các mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2026-2030.
Theo đó, thành phố phấn đấu duy trì mức giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia từ 0,4-0,5%/năm; riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm ít nhất 3%/năm.
Đến cuối năm 2030, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều ước còn 2,66%; khu vực đô thị ước còn 0,74%; khu vực nông thôn ước còn 4,86%; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi dưới 14%.
Đến năm 2030, thành phố phấn đấu cơ bản không còn hộ nghèo, hộ cận nghèo có thành viên là người có công với cách mạng; hằng năm giảm số hộ nghèo và hộ cận nghèo có khả năng lao động theo chỉ tiêu thành phố.
Kết luận cũng đặt mục tiêu 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo có khả năng lao động tự nguyện đăng ký thoát nghèo được hỗ trợ kinh phí thực hiện kế hoạch thoát nghèo bền vững; 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo được tạo điều kiện tiếp cận tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản; 100% người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo được đào tạo nghề, hỗ trợ kết nối, tư vấn, định hướng nghề nghiệp, thông tin thị trường và tìm việc làm.
Bốn nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Để thực hiện các mục tiêu trên, Ban Thường vụ Thành ủy xác định 4 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo; đổi mới tuyên truyền, vận động và phát huy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về giảm nghèo bền vững; xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn với các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và giai đoạn.
Kết luận yêu cầu đổi mới tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hành động của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; khơi dậy ý chí tự lực vươn lên thoát nghèo, không trông chờ, ỷ lại; phát huy truyền thống đoàn kết, tinh thần “tương thân, tương ái”; kịp thời biểu dương, khen thưởng, nhân rộng các mô hình, cách làm hay trong công tác giảm nghèo.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế, chính sách giảm nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều; bảo đảm tiếp cận đầy đủ dịch vụ xã hội cơ bản và tạo sinh kế, thu nhập bền vững
Thành phố tiếp tục rà soát, nghiên cứu, hoàn thiện chính sách giảm nghèo đặc thù để cải thiện các chiều, chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản; nâng cao chất lượng chính sách an sinh xã hội, nhất là về nhà ở, y tế, giáo dục, trợ cấp đối với người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không có khả năng lao động; hỗ trợ mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện phù hợp.
Cùng với đó là hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi; phát triển nông nghiệp, nông thôn; khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã liên kết sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm; đa dạng hóa hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, kết nối cung - cầu lao động, thị trường hàng hóa, dịch vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nhất là tại vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Thứ ba, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho công tác giảm nghèo bền vững
Kết luận xác định Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đồng thời huy động tối đa nguồn lực xã hội, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; ưu tiên, lồng ghép các nguồn lực thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia với các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030; tập trung đầu tư cho các địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao.
Thành phố tiếp tục tăng cường nguồn lực cho tín dụng chính sách xã hội; hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, tạo việc làm và các chính sách khuyến khích, thu hút doanh nghiệp đầu tư tại vùng khó khăn; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố trong huy động, tiếp nhận, phân bổ, quản lý và sử dụng hiệu quả Quỹ “Vì người nghèo”.
Thứ tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước gắn với triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp giảm nghèo bền vững
Kết luận yêu cầu rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo theo nguyên nhân, mức độ thiếu hụt và khả năng thoát nghèo, từ đó xây dựng kế hoạch, lộ trình giảm nghèo cụ thể, phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Đối với hộ nghèo không có khả năng lao động, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách trợ cấp xã hội và hỗ trợ tiếp cận nhà ở, y tế, nước sinh hoạt, thông tin và các dịch vụ xã hội cơ bản. Đối với hộ nghèo có khả năng lao động, xây dựng phương án giảm nghèo theo địa chỉ, xác định rõ nguyên nhân, nhu cầu và giải pháp hỗ trợ, phấn đấu mỗi năm giảm 20% số hộ nghèo có khả năng lao động.
Kết luận cũng yêu cầu thực hiện đầy đủ, kịp thời, đồng bộ và đúng quy định các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội; bảo đảm công khai, minh bạch trong rà soát, xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng thụ hưởng; hoàn thiện, cập nhật cơ sở dữ liệu giảm nghèo, bảo đảm kết nối với cơ sở dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ quản lý, theo dõi và hoạch định chính sách.
Cụ thể hóa Kết luận, gắn trách nhiệm với tổ chức thực hiện
Kết luận số 38-KL/TU yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Kết luận đến cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp Nhân dân; đồng thời cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tiễn, hoàn thành trong tháng 9/2026.
Đối với Đảng ủy UBND thành phố, Kết luận giao lãnh đạo, chỉ đạo UBND thành phố xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện; phối hợp với HĐND thành phố rà soát, nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến công tác giảm nghèo; chủ trì theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc và đánh giá việc triển khai thực hiện.
Thực hiện yêu cầu này, Ban Thường vụ Đảng ủy UBND thành phố đã xây dựng Kế hoạch tuyên truyền, quán triệt và tổ chức thực hiện Kết luận, trong đó xác định tuyên truyền phải tập trung làm rõ những nội dung mới, mục tiêu đến năm 2030, nhiệm vụ, giải pháp và trách nhiệm tổ chức thực hiện; đồng thời tuyên truyền các chính sách mới, kết quả thực hiện, mô hình hay, cách làm hiệu quả và những gương điển hình.
Kế hoạch cũng yêu cầu gắn việc quán triệt với thảo luận, xác định nhiệm vụ cụ thể và trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân; chỉ đạo UBND thành phố cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thành chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hằng năm, giai đoạn.
Giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài
Kết luận số 38-KL/TU xác định giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn với các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân.
Với mục tiêu đến năm 2030, các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm và yêu cầu cụ thể hóa trách nhiệm tổ chức thực hiện, Kết luận số 38-KL/TU tạo cơ sở để các cấp, các ngành tiếp tục triển khai công tác giảm nghèo phù hợp với từng địa bàn, từng nhóm đối tượng và điều kiện thực tiễn.
Thực hiện tốt Kết luận số 38-KL/TU là góp phần bảo đảm người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, có điều kiện cải thiện thu nhập, tạo sinh kế và từng bước ổn định cuộc sống; qua đó góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân trên địa bàn thành phố.
Nguồn
Kết luận số 38-KL/TU ngày 20/8/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng về tiếp tục triển khai thực hiện công tác giảm nghèo bền vững đến năm 2030 trên địa bàn thành phố; Kế hoạch của Ban Thường vụ Đảng ủy UBND thành phố về tuyên truyền, quán triệt và tổ chức thực hiện Kết luận.