
Công nghệ sinh học – từ tiềm năng đến động lực phát triển
Thực hiện các chủ trương của Đảng về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, những năm qua, công nghệ sinh học nước ta có bước phát triển nhanh, đạt nhiều thành tựu quan trọng và ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội. Công nghệ sinh học đã tạo đột phá trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp chế biến, y dược và môi trường; công nghiệp sinh học từng bước được hình thành, nhiều doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, sản xuất, thương mại hóa sản phẩm công nghệ sinh học.
Tuy nhiên, Nghị quyết cũng chỉ rõ những hạn chế: công nghệ sinh học phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; năng lực công nghệ sinh học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; một số lĩnh vực quan trọng còn lạc hậu so với khu vực và thế giới; công nghiệp sinh học chưa trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng; đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế, bất cập.
Từ thực tiễn đó, Nghị quyết 36-NQ/TW đặt ra yêu cầu tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, cơ chế, chính sách, nguồn lực, nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sinh học; từng bước đưa công nghệ sinh học trở thành một động lực quan trọng phục vụ phát triển bền vững đất nước.
03 quan điểm chỉ đạo
Nghị quyết 36-NQ/TW xác định 03 quan điểm xuyên suốt:
01. Công nghệ sinh học là xu thế và động lực quan trọng
Phát triển công nghệ sinh học là xu thế của thế giới; là động lực quan trọng để thực hiện quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân.
02. Phát huy tiềm năng, lợi thế của đất nước
Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phải khai thác và phát huy tốt nhất tiềm năng, lợi thế của đất nước, của từng vùng và địa phương; lợi thế của quốc gia đi sau; tập trung đầu tư phát triển một số lĩnh vực trọng điểm, cơ bản, nhất là tận dụng ưu thế về đa dạng sinh học của nước ta.
03. Phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng
Phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng là giải pháp ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội; lấy doanh nghiệp là chủ thể, có cơ chế, chính sách vượt trội tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, đầu tư phát triển công nghiệp sinh học.
Mục tiêu đến năm 2030 – tầm nhìn đến năm 2045
Mục tiêu tổng quát
Nghị quyết xác định tập trung phát triển, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh về công nghệ sinh học, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á; xây dựng ngành công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, đóng góp tích cực vào GDP cả nước.
Đến năm 2030
Nghị quyết đặt ra các mục tiêu chủ yếu:
- Nền công nghệ sinh học nước ta đạt trình độ tiên tiến thế giới trên một số lĩnh vực quan trọng, là một trong 10 quốc gia hàng đầu Châu Á về sản xuất và dịch vụ thông minh công nghệ sinh học.
- Công nghệ sinh học được ứng dụng rộng rãi trong các ngành, lĩnh vực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
- Xây dựng nền công nghệ sinh học có nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ sở vật chất, tài chính đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng.
- Công nghiệp sinh học trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng.
- Doanh nghiệp công nghiệp sinh học tăng 50% về quy mô đầu tư và quy mô tăng trưởng.
- Thay thế ít nhất 50% sản phẩm công nghệ sinh học nhập khẩu.
- Công nghiệp sinh học đóng góp 7% vào GDP.
Tầm nhìn đến năm 2045
Việt Nam trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh; khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo về công nghệ sinh học thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á.
Công nghiệp sinh học đóng góp 10 - 15% vào GDP.
2030: Tiên tiến – ứng dụng rộng rãi – công nghiệp sinh học trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng.
2045: Phát triển trên thế giới – thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á – công nghiệp sinh học đóng góp 10 - 15% GDP.
05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, Nghị quyết 36-NQ/TW xác định 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp.
01. Thống nhất nhận thức về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học
Các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nghiên cứu, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công nghệ sinh học.
Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức trong cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp về vai trò, tầm quan trọng của phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học đối với kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đời sống Nhân dân.
Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học được xác định là một nội dung, nhiệm vụ trong chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, ngành, lĩnh vực. Hệ thống báo chí chú trọng giới thiệu thành tựu, tuyên truyền các tập thể, cá nhân điển hình và kịp thời khen thưởng, tôn vinh các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động hiệu quả.
02. Hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách
Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách; thu hút doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng, sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học; bảo đảm an toàn sinh học.
Có chính sách phù hợp, vượt trội để phát triển, ứng dụng công nghệ sinh học và sản xuất sản phẩm có giá trị cao; khuyến khích đầu tư, nghiên cứu, ứng dụng; đào tạo, phát hiện, sử dụng nguồn nhân lực công nghệ sinh học.
Đồng thời, xây dựng cơ chế bảo đảm mối liên kết giữa các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sinh học; triển khai các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm công nghệ sinh học.
03. Phát triển, ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất và đời sống; phát triển công nghiệp sinh học
Đây là nhóm nhiệm vụ có phạm vi rất rộng, tập trung vào các lĩnh vực:
Nông nghiệp: tạo giống cây trồng, vật nuôi thích nghi với biến đổi khí hậu, chống chịu sâu bệnh, có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao; phát triển vắcxin, chế phẩm sinh học; bảo tồn và phát triển nguồn gen quý, hiếm.
Công nghiệp chế biến: phát triển, ứng dụng, hiện đại hóa công nghệ sinh học để tạo ra sản phẩm an toàn, hiệu quả, có giá trị cao từ nguồn nguyên liệu trong nước.
Y tế: đẩy mạnh nghiên cứu, sản xuất thuốc, vắcxin; nghiên cứu công nghệ tế bào gốc, công nghệ gen, thuốc sinh học và thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thảo dược.
Môi trường: phục hồi, cải thiện chất lượng môi trường; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; sử dụng bền vững tài nguyên; góp phần xây dựng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; sản xuất nhiên liệu, vật liệu sinh học thân thiện với môi trường và phát huy tiềm năng kinh tế biển.
Cùng với đó là xây dựng công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ mới, sở hữu trí tuệ, nghiên cứu sản xuất quy mô công nghiệp, xây dựng thương hiệu, thương mại hóa sản phẩm và khai thác hiệu quả các phát minh, sáng chế có giá trị cao.
Nghị quyết cũng đặt yêu cầu chủ động ứng phó với các tình huống liên quan đến tác nhân sinh học, bảo đảm an ninh sinh học và làm chủ công nghệ phục vụ quốc phòng, an ninh.
04. Xây dựng nguồn nhân lực, tăng cường cơ sở vật chất
Nghiên cứu xây dựng mô hình đào tạo nhân lực công nghệ sinh học từ giáo dục phổ thông đến đại học và trên đại học; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động với cơ sở đào tạo; gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và nhu cầu thực tiễn.
Chú trọng xây dựng đội ngũ nhà khoa học đầu ngành, các nhóm nghiên cứu có uy tín, trình độ quốc tế; tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo.
Tập trung nguồn lực nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi; phát triển sản phẩm công nghệ sinh học mà Việt Nam có lợi thế; đầu tư, hoàn thiện các trung tâm công nghệ sinh học, phòng thí nghiệm, trung tâm đánh giá, kiểm định và một số trung tâm kiểm soát dịch bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế.
Đồng thời hỗ trợ các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học - công nghệ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ, thiết bị.
05. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế
Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ sinh học; tuân thủ các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam tham gia.
Chú trọng mua, chuyển giao, trao đổi công nghệ, tiếp nhận công nghệ mới, công nghệ có giá trị cao; hợp tác nghiên cứu về mô hình phát triển kinh tế sinh học, quản lý tài nguyên và phát triển kinh tế, xã hội bền vững với các quốc gia có trình độ công nghệ sinh học phát triển.
Từ nhận thức đến hành động
Nghị quyết 36-NQ/TW cho thấy phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học không phải là nhiệm vụ riêng của một ngành hay một lĩnh vực. Đây là một định hướng có tính liên ngành, liên lĩnh vực, gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất, kinh doanh và đời sống; gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.
Để Nghị quyết đi vào cuộc sống, yêu cầu quan trọng là thống nhất nhận thức và hành động, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp; thúc đẩy liên kết giữa các nhà khoa học, tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sinh học.
Đối với công tác tuyên truyền, Nghị quyết yêu cầu chú trọng phổ biến, quán triệt nội dung Nghị quyết; giới thiệu thành tựu, tuyên truyền các tập thể, cá nhân điển hình trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học. Đây cũng là một trong những nội dung được Hướng dẫn tuyên truyền của Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy nhấn mạnh.
Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học – tạo động lực cho đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao đời sống Nhân dân và phát triển bền vững đất nước.