
Ngày 25/8/2026, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế.
Theo Thông báo số 159-TB/VPTW, thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự chung sức của toàn xã hội, công tác an sinh xã hội đã đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần ổn định xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đến nay, cả nước có 99,1 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, chiếm 96,9% dân số; khoảng 2,5 triệu người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Các chính sách về giảm nghèo, tín dụng, nhà ở, giáo dục, y tế, việc làm và cứu trợ thiên tai đã trở thành điểm tựa của hàng triệu gia đình.
Bên cạnh những kết quả đạt được, chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế vẫn còn một số bất cập. Mức hưởng và chất lượng dịch vụ ở nhiều nơi còn hạn chế; nhiều người có thẻ bảo hiểm y tế còn ngại đi khám do thủ tục hành chính và các chi phí liên quan; nhiều lao động phi chính thức, lao động nền tảng, lao động di cư chưa được bảo vệ đầy đủ; khoảng cách phát triển giữa các vùng, các nhóm dân cư còn khá lớn.
Thông báo xác định an sinh xã hội là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội, là sự đầu tư cho con người và cho phát triển trong tương lai. Hiệu quả của chính sách cần được đánh giá bằng sức khỏe, giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực, sự ổn định xã hội và niềm tin của Nhân dân.
Chính sách an sinh xã hội phải hướng tới bao phủ toàn dân, đồng thời ưu tiên các nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, người cao tuổi không có lương hưu, người khuyết tật, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai, mất việc làm, bạo lực và những người không có khả năng tự bảo vệ.
An sinh xã hội bền vững cần dựa trên việc làm, thu nhập ổn định và khả năng tiếp cận nhà ở, y tế, giáo dục, dinh dưỡng, chăm sóc trẻ em và các dịch vụ thiết yếu. Gia đình và cộng đồng là nền tảng; cơ sở là tuyến đầu. Chính sách phải sát thực tiễn, không bị chia cắt theo địa giới hành chính hoặc theo từng cơ quan; Nhà nước chủ động phát hiện, hỗ trợ đúng người, đúng thời điểm, không để người dân phải đi lại qua nhiều cơ quan để tìm kiếm sự hỗ trợ.
Mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Đến năm 2030, cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao trùm, số hóa, bảo đảm sàn an sinh tối thiểu cho tất cả người dân.
Đến năm 2045, hệ thống an sinh xã hội hướng tới tiếp cận các chuẩn mực của các nước phát triển có thu nhập cao, với dịch vụ có chất lượng, tài chính bền vững, quản trị minh bạch và khả năng ứng phó tốt với các rủi ro.
Tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” phải được cụ thể hóa bằng những kết quả có thể đo lường, theo dõi; không để người có nhu cầu hỗ trợ rơi xuống dưới mức sống tối thiểu mà không được phát hiện; không để trẻ em phải bỏ học vì nghèo; không để người khuyết tật nặng không được chăm sóc; không để gia đình bị ảnh hưởng bởi thiên tai phải chờ đợi hỗ trợ quá lâu.
8 nhóm nhiệm vụ trọng tâm
Một là, xây dựng hồ sơ an sinh xã hội và đầu mối phục vụ. Phát triển Cơ sở dữ liệu an sinh xã hội quốc gia, kết nối với dữ liệu về dân cư, bảo hiểm, thuế, việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, thiên tai; bảo đảm an ninh, an toàn và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Mỗi người dân có hồ sơ an sinh xã hội theo vòng đời; mỗi gia đình được đánh giá nhu cầu hỗ trợ. Xây dựng bộ chỉ số quốc gia về an sinh xã hội để theo dõi mức độ bao phủ, quyền lợi, tỷ lệ bỏ sót, thời gian xử lý, chi phí người dân phải tự trả, khả năng tiếp cận việc làm, khả năng tiếp cận của người khuyết tật và mức độ hài lòng.
Hai là, củng cố sàn an sinh xã hội và cải cách trợ giúp xã hội. Rà soát, hợp nhất các chương trình có nội dung trùng lặp, giảm đầu mối, thống nhất các tiêu chí cốt lõi, đồng thời tạo dư địa để địa phương giải quyết những vấn đề đặc thù. Mức trợ giúp cần được điều chỉnh phù hợp với mức sống tối thiểu, biến động giá cả và khả năng ngân sách, bảo đảm hỗ trợ kịp thời.
Ba là, mở rộng bảo hiểm xã hội và xây dựng thị trường lao động bao trùm. Nghiên cứu các gói bảo hiểm linh hoạt, hỗ trợ người thu nhập thấp; xác định rõ trách nhiệm đóng góp của Nhà nước, người lao động và doanh nghiệp; mở rộng bảo hiểm xã hội đến lao động nền tảng, lao động tự do và khu vực phi chính thức; gắn hỗ trợ người trong độ tuổi lao động với đào tạo kỹ năng, tư vấn việc làm, tín dụng và kết nối doanh nghiệp.
Bốn là, xây dựng hệ thống an sinh xã hội gắn với gia đình và quan hệ liên thế hệ. Quy hoạch công nghiệp, kinh tế, đô thị cần gắn với việc làm, nhà ở xã hội, trường học, cơ sở y tế, chăm sóc trẻ em và các dịch vụ thiết yếu. An sinh xã hội phải theo người lao động di cư, không bị giới hạn bởi nơi cư trú; quan tâm đến trẻ em sống xa cha mẹ, được ông bà chăm sóc và những gia đình có nhiều người phụ thuộc.
Năm là, phát triển hệ thống chăm sóc và thích ứng với già hóa dân số. Xây dựng chiến lược quốc gia về chăm sóc người cao tuổi; kết hợp chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, công tác xã hội, chăm sóc tại gia đình và cộng đồng; phát triển các mô hình chăm sóc ban ngày, chăm sóc tạm thời, hỗ trợ người khuyết tật và hỗ trợ người chăm sóc trong gia đình; nghiên cứu thí điểm bảo hiểm chăm sóc dài hạn tại một số địa phương trước khi mở rộng.
Sáu là, bảo đảm phát triển công bằng cho trẻ em và các nhóm dễ bị tổn thương. Ưu tiên đầu tư cho 1.000 ngày đầu đời, gồm dinh dưỡng, tiêm chủng, giáo dục mầm non, sàng lọc và can thiệp sớm khuyết tật. Tăng cường hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương trong học tập, giáo dục nghề nghiệp, hướng nghiệp; bảo đảm khả năng tiếp cận công trình công cộng, giao thông, giáo dục, y tế và dịch vụ số đối với người khuyết tật.
Bảy là, tăng cường khả năng chống chịu trước thiên tai, dịch bệnh và phát triển xanh. Mỗi địa phương cần xây dựng bản đồ rủi ro, danh sách các hộ dễ bị tổn thương và phương án ứng phó. Khi thiên tai xảy ra, hệ thống dữ liệu, ngân sách và chi trả cần được kích hoạt ngay, rút ngắn thời gian hỗ trợ đối tượng đủ điều kiện từ hàng tuần xuống hàng ngày. Các kế hoạch phát triển, đầu tư kết cấu hạ tầng, sản xuất phải gắn với việc làm, thu nhập và sinh kế của người dân.
Tám là, đổi mới quản trị, tài chính và giám sát xã hội. Xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn về an sinh xã hội; công khai nguồn lực và kết quả; cắt giảm chồng chéo, kém hiệu quả; huy động nguồn lực xã hội đi đôi với việc Nhà nước bảo đảm sàn an sinh tối thiểu. Tăng cường giám sát xã hội, tiếp nhận phản hồi, đối thoại với người thụ hưởng; xử lý nghiêm hành vi trục lợi chính sách, thiếu trách nhiệm, vô cảm, che giấu sai phạm; đồng thời bảo vệ cán bộ cơ sở dám quyết định, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chính đáng, cấp thiết của người dân.
Tổ chức thực hiện
Thông báo yêu cầu Đảng ủy Chính phủ sớm xây dựng chương trình quốc gia hiện đại hóa hệ thống an sinh xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định rõ trách nhiệm, tiến độ, nguồn lực và kết quả cần đạt; chuẩn hóa dữ liệu và thí điểm Cơ sở dữ liệu an sinh xã hội quốc gia.
Đảng ủy Quốc hội rà soát, hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội, việc làm, trợ giúp xã hội, người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, phòng, chống bạo lực gia đình; mỗi chính sách phải bảo đảm nguồn lực và đánh giá tác động.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tăng cường giám sát, phản biện, huy động nguồn lực xã hội công khai, minh bạch, tôn trọng phẩm giá của người thụ hưởng.
Cấp ủy, chính quyền địa phương xác định xã, phường là địa bàn phục vụ trực tiếp; mỗi trường hợp khó khăn, phức tạp phải có đầu mối chịu trách nhiệm; chủ động rà soát, bảo đảm không bỏ sót người cần được hỗ trợ.
Doanh nghiệp và xã hội có trách nhiệm tạo việc làm bền vững, nâng cao thu nhập, thực hiện đầy đủ bảo hiểm, bảo đảm an toàn và bình đẳng; phát triển các doanh nghiệp xã hội, quỹ cộng đồng, dịch vụ chăm sóc và công nghệ hỗ trợ theo hướng đúng pháp luật, công khai, minh bạch, hiệu quả.
Nguồn: Thông báo số 159-TB/VPTW ngày 29/8/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng.