
Từ những thành tựu lớn đến yêu cầu đổi mới mô hình phát triển
Sau 40 năm đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao, đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Tuy nhiên, Nghị quyết số 19-NQ/TW cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế của mô hình phát triển hiện nay. Tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng, còn dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp; năng suất lao động, năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp; năng lực tự chủ chiến lược chưa cao; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của phát triển.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những thay đổi mạnh mẽ, tác động sâu rộng đến mọi quốc gia, Nghị quyết đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn tới.
Đây không chỉ là sự điều chỉnh về phương thức tăng trưởng kinh tế, mà là một bước chuyển về tư duy phát triển, hướng tới hình thành một mô hình phát triển mới phù hợp với yêu cầu của thời đại và khát vọng phát triển đất nước.
Đổi mới mô hình phát triển trước hết là đổi mới tư duy
Nghị quyết xác định đổi mới mô hình phát triển gắn với xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái phát triển, kiên định đường lối đổi mới của Đảng, phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Một trong những yêu cầu nổi bật là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia, tạo ra năng lực phát triển mới.
Mô hình phát triển mới lấy con người làm chủ thể trung tâm; lấy mục tiêu nâng cao mức sống, tiềm lực quốc gia, chất lượng đời sống và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu xuyên suốt; đồng thời xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động là những động lực quan trọng của phát triển.
Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển; quản trị theo mục tiêu, không gian phát triển, phối hợp liên thông, dựa trên dữ liệu và phản ứng chính sách, lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ Nhân dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo.
Đây là những chuyển đổi có ý nghĩa quan trọng, đặt ra yêu cầu đổi mới không chỉ đối với thể chế, chính sách mà cả phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện.
Hình thành đồng bộ một mô hình phát triển mới
Theo Nghị quyết, đến năm 2035, Việt Nam phấn đấu cơ bản chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, với các mô hình thành phần được hình thành đồng bộ trên nhiều lĩnh vực.
Đó là mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập; mô hình phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm và bền vững; mô hình phát triển văn hóa, con người toàn diện, hiện đại, sáng tạo, giàu bản sắc và nhân văn; mô hình môi trường sinh thái hiện đại, thông minh, bền vững, thích ứng; mô hình quốc phòng - an ninh toàn dân, toàn diện, tự chủ, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; mô hình đối ngoại và hội nhập quốc tế chủ động, toàn diện, hiệu quả, bản sắc và kiến tạo phát triển; cùng mô hình quản trị quốc gia dân chủ, hiện đại, thông minh, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả.
Như vậy, đổi mới mô hình phát triển không chỉ là câu chuyện của kinh tế, mà là quá trình đổi mới đồng bộ các lĩnh vực, trong đó kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, môi trường, quốc phòng - an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại và cùng hướng tới mục tiêu phát triển đất nước.
Tầm nhìn dài hạn cho một Việt Nam phát triển
Nghị quyết đặt ra các mục tiêu theo những mốc thời gian cụ thể.
Đến năm 2030, hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới; tạo đột phá về xây dựng, hoàn thiện thể chế và thực hiện quản trị quốc gia hiện đại, đồng thời phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược.
Đến năm 2035, cơ bản chuyển đổi sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập.
Đến năm 2045, hoàn thành chuyển đổi sang mô hình phát triển mới; Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, với kinh tế phát triển chủ yếu dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tự chủ chiến lược và hội nhập sâu rộng.
Xa hơn, Nghị quyết xác định tầm nhìn đến năm 2130: Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; nền kinh tế xanh, sáng tạo, với vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh.
Từ tư duy mới đến hành động mới
Để hiện thực hóa mô hình phát triển mới, Nghị quyết xác định nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, trước hết tập trung vào đổi mới thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị; đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế; phát triển xã hội, văn hóa, con người; bảo vệ môi trường sinh thái; củng cố quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Trong đó, yêu cầu xuyên suốt là đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức thực hiện, xác định rõ nhiệm vụ, lộ trình, nguồn lực, sản phẩm đầu ra và trách nhiệm; đổi mới cơ chế quản trị theo mục tiêu, kết quả và tác động phát triển; đề cao trách nhiệm người đứng đầu; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Nghị quyết số 19-NQ/TW vì vậy không chỉ đặt ra một định hướng phát triển dài hạn, mà còn truyền đi yêu cầu rõ ràng về đổi mới tư duy, đổi mới cách làm và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện.
Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt và tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết sẽ góp phần tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, từng bước đưa những quan điểm, mục tiêu và giải pháp của Nghị quyết vào thực tiễn, tạo chuyển biến thực chất trong quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước. Theo Nghị quyết, các cấp ủy, tổ chức đảng có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện và triển khai nghiêm túc đến chi bộ.
Xem toàn văn Nghị quyết tại đây: file:///C:/Users/ASUS/Downloads/19-nq-tw_signed_30d0e.pdf